Wednesday, October 7, 2015

Tập III - UẨN - Chương 2 – Tương Ưng RADHA - Phẩm (4) THÂN CẬN - Bài 1----10

Bài 1- Māra (Tạp 6, Đại 2,39b)(S.iii, 188)
Bài 2- Chúng Sanh (Tạp 6, Đại 2,40a)(S.iii, 189)
Bài 3- Sợi Dây Tái Sanh (Tạp 6, Đại 2,37c)(S.iii, 190)
Bài 4- Sở Biến Tri (Tạp 6, Đại 2,37c)(Parinneyya)(S.iii, 191)
Bài 5-6 Sa Môn (S.iii, 191,192)
Bài 7- Bậc Dự Lưu (S.iii, 191)
Bài 8- Bậc A-la-hán (S.iii, 191)
Bài 9-10 Dục Tham (S.iii, 191)

Bài giảng:

https://youtu.be/Z8e89nmwTCQ

http://www.mediafire.com/listen/yfm9s2d9x003shf/%5BTUK3%5D%5B2015-10-07%5D-Chuong_2-R%C4%80DHA.mp3

http://www.mediafire.com/view/137rnasiswc8u1a/txt_2015-10-07_TUK3_Chuong_2-R%C4%80DHA_.rtf

Chánh văn tiếng Việt:
IV. Phẩm Thân Cận
I. Màra (Phẩm III - Sơ vấn)
II. Màra Tánh (Phẩm III - Sơ vấn)
III. Vô Thường (Phẩm III - Sơ vấn)
IV. Vô Thường Tánh (Phẩm III - Sơ vấn)
V. Khổ (Phẩm III - Sơ vấn)
VI. Khổ Tánh (Phẩm III - Sơ vấn)
VII. Vô Ngã (Phẩm III - Sơ vấn)
VIII. Vô Ngã Tánh (Phẩm III - Sơ vấn)
IX. Tận Diệt (Phẩm III - Sơ vấn)
X. Ðoạn Diệt (Phẩm III - Sơ vấn)
XI. Tập Khởi (Phẩm III - Sơ vấn)
XII. Ðoạn Diệt Tánh (Phẩm III - Sơ vấn)

Chánh văn Pāḷi:
4. Upanisinnavaggo
1-11. Mārādisuttaekādasakaṃ
194. Sāvatthinidānaṃ . Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ rādhaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘yo kho, rādha, māro; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo. Ko ca, rādha, māro? Rūpaṃ kho, rādha, māro; tatra te chando pahātabbo…pe… viññāṇaṃ māro; tatra te chando pahātabbo…pe… yo kho, rādha, māro; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo’’ti.
195. Yo kho, rādha, māradhammo; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo…pe….
196. Yaṃ kho, rādha, aniccaṃ…pe….
197. Yo kho, rādha, aniccadhammo…pe….
198. Yaṃ kho, rādha, dukkhaṃ…pe….
199. Yo kho, rādha, dukkhadhammo…pe….
200. Yo kho, rādha, anattā…pe….
201. Yo kho, rādha, anattadhammo…pe….
202. Yo kho, rādha, khayadhammo…pe….
203. Yo kho, rādha, vayadhammo…pe….
204. Yo kho, rādha, samudayadhammo; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo…pe….
12. Nirodhadhammasuttaṃ
205. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ rādhaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘yo kho, rādha, nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo. Ko ca, rādha, nirodhadhammo? Rūpaṃ kho, rādha, nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo. Vedanā…pe… saññā…pe… saṅkhārā…pe… viññāṇaṃ nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo. Yo kho, rādha, nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo’’ti.
Chú giải Pāḷi:
3-4. Āyācanavaggādi
1-11. Mārādisuttaekādasakavaṇṇanā
182-205. Tato paraṃ uttānatthameva. Ayañhi rādhatthero paṭibhāniyatthero nāma. Tathāgatassa imaṃ theraṃ disvā sukhumaṃ kāraṇaṃ upaṭṭhāti. Tenassa bhagavā nānānayehi dhammaṃ deseti. Evaṃ imasmiṃ rādhasaṃyutte ādito dve vaggā pucchāvasena desitā, tatiyo āyācanena, catuttho upanisinnakakathāvasena. Sakalampi panetaṃ rādhasaṃyuttaṃ therassa vimuttiparipācanīyadhammavaseneva gahitanti veditabbaṃ.

Tập III - UẨN - Chương 2 – Tương Ưng RADHA - Phẩm (3)SƠ VẤN - Bài 1----10

Bài 1- Māra (Tạp 6, Đại 2,39b)(S.iii, 188)
Bài 2- Chúng Sanh (Tạp 6, Đại 2,40a)(S.iii, 189)
Bài 3- Sợi Dây Tái Sanh (Tạp 6, Đại 2,37c)(S.iii, 190)
Bài 4- Sở Biến Tri (Tạp 6, Đại 2,37c)(Parinneyya)(S.iii, 191)
Bài 5-6 Sa Môn (S.iii, 191,192)
Bài 7- Bậc Dự Lưu (S.iii, 191)
Bài 8- Bậc A-la-hán (S.iii, 191)
Bài 9-10 Dục Tham (S.iii, 191)

Bài giảng: 

https://youtu.be/Z8e89nmwTCQ

http://www.mediafire.com/listen/yfm9s2d9x003shf/%5BTUK3%5D%5B2015-10-07%5D-Chuong_2-R%C4%80DHA.mp3

http://www.mediafire.com/view/137rnasiswc8u1a/txt_2015-10-07_TUK3_Chuong_2-R%C4%80DHA_.rtf

Chánh văn tiếng Việt:
III. Phẩm Sơ Vấn
I. Về Màra (Tạp quyển 6, Ðại 2,40c) (S.iii,198)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, để con sau khi nghe pháp, có thể sống một mình, an tịch, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
4-23) -- Cái gì là Màra, này Ràdha, ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, đoạn trừ lòng tham, đoạn trừ lòng dục và tham. Và cái gì là Màra, này Ràdha? Sắc, này Ràdha, là Màra; ở đây Ông cần đoạn trừ lòng dục, cần đoạn trừ lòng tham, cần đoạn trừ lòng dục và tham. Thọ là Màra, ở đây Ông cần đoạn trừ lòng dục, cần đoạn trừ lòng tham, cần đoạn trừ lòng dục và tham. Tưởng... Các hành... Thức là Màra, ở đây Ông cần đoạn trừ lòng dục, cần đoạn trừ lòng tham, cần đoạn trừ lòng dục và tham.
24) Cái gì thuộc về Ma tánh (Màradhamma), này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, cần phải đoạn trừ lòng tham, cần phải đoạn trừ lòng dục và tham...
25) Cái gì là vô thường...
26) Cái gì là vô thường tánh...
27) Cái gì là khổ...
28) Cái gì là khổ tánh...
29) Cái gì là vô ngã...
30) Cái gì là vô ngã tánh...
31) Cái gì là đoạn tận...
32) Cái gì là đoạn diệt...
33) Cái gì là tập khởi tánh, ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, cần phải đoạn trừ lòng tham, cần phải đoạn trừ lòng dục và tham.
II. Ðoạn Diệt Tánh (S.iii,199)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, để con sau khi nghe pháp, có thể sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4) -- Cái gì là đoạn diệt pháp, này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, đoạn trừ lòng tham, đoạn trừ lòng dục và tham. Và cái gì là đoạn diệt pháp, này Ràdha? Sắc, này Ràdha, là đoạn diệt pháp; ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, cần phải đoạn trừ lòng tham, cần phải đoạn trừ lòng dục và tham. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là đoạn diệt pháp; ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, cần phải đoạn trừ lòng tham, cần phải đoạn trừ lòng dục và tham.

Chánh văn Pāḷi:
3. Āyācanavaggo
1-11. Mārādisuttaekādasakaṃ
182. Sāvatthinidānaṃ . Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘sādhu me, bhante, bhagavā saṃkhittena dhammaṃ desetu, yamahaṃ bhagavato dhammaṃ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyya’’nti.
‘‘Yo kho, rādha, māro; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo [sīhaḷapotthake pana ‘‘tatra te chando pahātabboti ekaṃ suttaṃ, tatra te rāgo pahātabboti ekaṃ suttaṃ, tatra te chandarāgo pahātabboti ekaṃ sutta’’nti evaṃ visuṃ visuṃ tīṇi suttāni vibhajitvā dassitāni. evamuparisuttesupi]. Ko ca, rādha, māro? Rūpaṃ kho, rādha, māro; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo[sīhaḷapotthake pana ‘‘tatra te chando pahātabboti ekaṃ suttaṃ, tatra te rāgo pahātabboti ekaṃ suttaṃ, tatra te chandarāgo pahātabboti ekaṃ sutta’’nti evaṃ visuṃ visuṃ tīṇi suttāni vibhajitvā dassitāni. evamuparisuttesupi]. Vedanā māro; tatra te chando pahātabbo…pe… saññā māro; tatra te chando pahātabbo…pe… saṅkhārā māro; tatra te chando pahātabbo…pe… viññāṇaṃ māro; tatra te chando pahātabbo…pe… yo kho, rādha, māro; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo’’ti.
183. Yo kho, rādha, māradhammo; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo…pe….
184. Yaṃ kho, rādha, aniccaṃ…pe….
185. Yo kho, rādha, aniccadhammo…pe….
186. Yaṃ kho, rādha, dukkhaṃ…pe….
187. Yo kho, rādha, dukkhadhammo…pe….
188. Yo kho, rādha, anattā…pe….
189. Yo kho, rādha, anattadhammo…pe….
190. Yo kho, rādha, khayadhammo…pe….
191. Yo kho, rādha, vayadhammo…pe….
192. Yo kho, rādha, samudayadhammo; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo…pe….
12. Nirodhadhammasuttaṃ
193. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘sādhu me, bhante, bhagavā saṃkhittena dhammaṃ desetu, yamahaṃ bhagavato dhammaṃ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyya’’nti.
‘‘Yo kho, rādha, nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo. Ko ca, rādha, nirodhadhammo? Rūpaṃ kho, rādha, nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo…pe… vedanā nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo…pe… saññā nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo…pe… saṅkhārā nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo…pe… viññāṇaṃ nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo…pe… yo kho, rādha, nirodhadhammo; tatra te chando pahātabbo, rāgo pahātabbo, chandarāgo pahātabbo’’ti [sīhaḷapotthake pana imasmiṃ vagge chattiṃsa suttāni vibhattāni ekekaṃ suttaṃ tīṇi tīṇi katvā, evaṃ catutthavaggepi].
Chú giải Pāḷi:
3-4. Āyācanavaggādi
1-11. Mārādisuttaekādasakavaṇṇanā
182-205. Tato paraṃ uttānatthameva. Ayañhi rādhatthero paṭibhāniyatthero nāma. Tathāgatassa imaṃ theraṃ disvā sukhumaṃ kāraṇaṃ upaṭṭhāti. Tenassa bhagavā nānānayehi dhammaṃ deseti. Evaṃ imasmiṃ rādhasaṃyutte ādito dve vaggā pucchāvasena desitā, tatiyo āyācanena, catuttho upanisinnakakathāvasena. Sakalampi panetaṃ rādhasaṃyuttaṃ therassa vimuttiparipācanīyadhammavaseneva gahitanti veditabbaṃ.

Tập III - UẨN - Chương 2 – Tương Ưng RADHA - Phẩm THỨ HAI - Bài 1----12

Bài 1- Māra 
Bài 2- Tánh Chất Của Māra 
Bài 3- Vô Thường 
Bài 4- Vô Thường Tánh
Bài 5- Khổ 
Bài 6- Khổ Tánh 
Bài 7- Vô Ngã
Bài 8- Vô Ngã Tánh
Bài 9- Tận Pháp 
Bài 10- Diệt Pháp 
Bài 11- Tập Khởi Pháp (Tam Hợp)
Bài 12- Tận Diệt Pháp 

Bài giảng

https://youtu.be/Z8e89nmwTCQ

http://www.mediafire.com/listen/yfm9s2d9x003shf/%5BTUK3%5D%5B2015-10-07%5D-Chuong_2-R%C4%80DHA.mp3

http://www.mediafire.com/view/137rnasiswc8u1a/txt_2015-10-07_TUK3_Chuong_2-R%C4%80DHA_.rtf

Chánh văn tiếng Việt:
II. Phẩm Thứ Hai
I. Màra
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Màra, Màra", bạch Thế Tôn, như vậy được gọi đến. Thế nào là Màra, bạch Thế Tôn?
4) -- Sắc, này Ràdha, là Màra. Thọ là Màra. Tưởng là Màra. Hành là Màra. Thức là Màra.
5) Do thấy vậy, này Ràdha, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
II. Tánh Chất Của Màra.
(Như kinh trước, chỉ thay Màra bằng tánh chất của Màra (Màradhamma) ).
III. Vô Thường
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Vô thường, vô thường", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô thường?
4) -- Sắc, này Ràdha, là vô thường. Thọ là vô thường. Tưởng là vô thường. Hành là vô thường. Thức là vô thường.
5) Do thấy vậy... Vị ấy biết rõ... "... không còn trở lui trạng thái này nữa".
IV. Vô Thường Tánh
(Kinh như trên, chỉ thay "vô thường" bằng "vô thường tánh").
V. Khổ
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Khổ, khổ", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, thế nào là khổ?
4) -- Sắc, này Ràdha, là khổ. Thọ là khổ. Tưởng là khổ. Các hành là khổ. Thức là khổ.
5) Do thấy vậy... Vị ấy biết rõ... "... không còn trở lui trạng thái này nữa".
VI. Khổ Tánh
(Như kinh trên, chỉ thay "khổ" bằng "khổ tánh").
VII. Vô Ngã
(Như kinh trên, chỉ thay "khổ" bằng "vô ngã").
VIII. Vô Ngã Tánh
(Như kinh trên, chỉ thay "khổ" bằng "vô ngã tánh").
IX. Tận Pháp
(Như kinh trên, chỉ thay "khổ" bằng "tận pháp" (khayadhamma: chịu sự đoạn tận)).
X. Diệt Pháp
(Như kinh trên, chỉ thay "khổ" bằng "diệt pháp" (vayadhamma: chịu sự đoạn diệt)).
XI. Tập Khởi Pháp (Samudayadhamma)
(Như kinh trên, chỉ thay "khổ" bằng "tập khởi pháp").
XII. Ðoạn Diệt Pháp (Nirodhadhamma)

(Như kinh trên, chỉ thay "khổ" bằng "đoạn diệt pháp").
Chánh văn Pāḷi:
2. Dutiyavaggo
1. Mārasuttaṃ
170. Sāvatthinidānaṃ . Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘māro, māro’ti, bhante, vuccati. Katamo nu kho, bhante, māro’’ti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, māro, vedanā māro, saññā māro, saṅkhārā māro, viññāṇaṃ māro. Evaṃ passaṃ, rādha, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṃ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī’’ti. Paṭhamaṃ.
2. Māradhammasuttaṃ
171. Sāvatthinidānaṃ . Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘māradhammo, māradhammo’ti, bhante, vuccati. Katamo nu kho, bhante, māradhammo’’ti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, māradhammo, vedanā māradhammo, saññā māradhammo, saṅkhārā māradhammo, viññāṇaṃ māradhammo. Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Dutiyaṃ.
3. Aniccasuttaṃ
172. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘aniccaṃ, anicca’nti, bhante, vuccati. Katamaṃ nu kho, bhante, anicca’’nti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, aniccaṃ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṃ aniccaṃ. Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Tatiyaṃ.
4. Aniccadhammasuttaṃ
173. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘aniccadhammo, aniccadhammo’ti, bhante, vuccati. Katamo nu kho, bhante, aniccadhammo’’ti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, aniccadhammo, vedanā aniccadhammo , saññā aniccadhammo, saṅkhārā aniccadhammo, viññāṇaṃ aniccadhammo. Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Catutthaṃ.
5. Dukkhasuttaṃ
174. Sāvatthinidānaṃ . Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘dukkhaṃ, dukkha’nti, bhante, vuccati. Katamaṃ nu kho, bhante, dukkha’’nti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, dukkhaṃ, vedanā dukkhā, saññā dukkhā, saṅkhārā dukkhā, viññāṇaṃ dukkhaṃ. Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Pañcamaṃ.
6. Dukkhadhammasuttaṃ
175. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘dukkhadhammo, dukkhadhammo’ti, bhante, vuccati. Katamo nu kho, bhante, dukkhadhammo’’ti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, dukkhadhammo, vedanā dukkhadhammo, saññā dukkhadhammo, saṅkhārā dukkhadhammo, viññāṇaṃ dukkhadhammo. Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Chaṭṭhaṃ.
7. Anattasuttaṃ
176. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘anattā, anattā’ti, bhante, vuccati. Katamo nu kho, bhante, anattā’’ti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, anattā, vedanā anattā, saññā anattā, saṅkhārā anattā, viññāṇaṃ anattā. Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Sattamaṃ.
8. Anattadhammasuttaṃ
177. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘anattadhammo, anattadhammo’ti, bhante, vuccati. Katamo nu kho, bhante, anattadhammo’’ti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, anattadhammo, vedanā anattadhammo , saññā anattadhammo, saṅkhārā anattadhammo, viññāṇaṃ anattadhammo. Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Aṭṭhamaṃ.
9.Khayadhammasuttaṃ
178. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘khayadhammo, khayadhammo’ti, bhante, vuccati. Katamo nu kho, bhante, khayadhammo’’ti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, khayadhammo, vedanā khayadhammo, saññā khayadhammo, saṅkhārā khayadhammo, viññāṇaṃ khayadhammo. Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Navamaṃ.
10. Vayadhammasuttaṃ
179. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘vayadhammo, vayadhammo’ti, bhante, vuccati. Katamo nu kho, bhante, vayadhammo’’ti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, vayadhammo, vedanā vayadhammo, saññā vayadhammo, saṅkhārā vayadhammo, viññāṇaṃ vayadhammo . Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Dasamaṃ.
11. Samudayadhammasuttaṃ
180. Sāvatthinidānaṃ . Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘samudayadhammo, samudayadhammo’ti, bhante, vuccati. Katamo nu kho, bhante, samudayadhammo’’ti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, samudayadhammo, vedanā samudayadhammo, saññā samudayadhammo, saṅkhārā samudayadhammo, viññāṇaṃ samudayadhammo. Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Ekādasamaṃ.
12. Nirodhadhammasuttaṃ
181. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘nirodhadhammo, nirodhadhammo’ti , bhante, vuccati. Katamo nu kho, bhante, nirodhadhammo’’ti? ‘‘Rūpaṃ kho, rādha, nirodhadhammo, vedanā nirodhadhammo, saññā nirodhadhammo, saṅkhārā nirodhadhammo, viññāṇaṃ nirodhadhammo. Evaṃ passaṃ…pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānātī’’ti. Dvādasamaṃ.
Chú giải Pāḷi:
2. Dutiyavaggo
1-12. Mārasuttādivaṇṇanā
170-181. Dutiyavaggassa paṭhame māro, māroti maraṇaṃ pucchati. Yasmā pana rūpādivinimuttaṃ maraṇaṃ nāma natthi, tenassa bhagavā rūpaṃ kho, rādha, mārotiādimāha . Dutiye māradhammoti maraṇadhammo. Etenupāyena sabbattha attho veditabboti.

Tập III - UẨN - Chương 2 – Tương Ưng RADHA - Phẩm THỨ NHẤT-Bài 1----10

Bài 1- Māra (Tạp 6, Đại 2,39b)(S.iii, 188)
Bài 2- Chúng Sanh (Tạp 6, Đại 2,40a)(S.iii, 189)
Bài 3- Sợi Dây Tái Sanh (Tạp 6, Đại 2,37c)(S.iii, 190)
Bài 4- Sở Biến Tri (Tạp 6, Đại 2,37c)(Parinneyya)(S.iii, 191)
Bài 5-6 Sa Môn (S.iii, 191,192)
Bài 7- Bậc Dự Lưu (S.iii, 191)
Bài 8- Bậc A-la-hán (S.iii, 191)
Bài 9-10 Dục Tham (S.iii, 191)

Bài giảng:

https://youtu.be/Z8e89nmwTCQ

http://www.mediafire.com/listen/yfm9s2d9x003shf/%5BTUK3%5D%5B2015-10-07%5D-Chuong_2-R%C4%80DHA.mp3

http://www.mediafire.com/view/137rnasiswc8u1a/txt_2015-10-07_TUK3_Chuong_2-R%C4%80DHA_.rtf

Chánh văn tiếng Việt:
I. Māra (Tạp 6, Ðại 2,39b) (S.iii,188)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi Tôn giả Ràdha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Màra, Màra", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Màra?
4) -- Nếu có sắc, này Ràdha, thời có chết (Màra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.
5-7) ... Thọ... tưởng... các hành...
8) Nếu có thức, này Ràdha, thời có chết, hay có sát giả, hay có bị chết. Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy thức là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh hoạn, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy thức như vậy là thấy chơn chánh.
9) -- Bạch Thế Tôn, chánh quán với mục đích gì?
-- Chánh quán, này Ràdha, với mục đích nhàm chán.
10) -- Bạch Thế Tôn, nhàm chán với mục đích gì?
-- Nhàm chán, này Ràdha, với mục đích ly tham.
11) -- Bạch Thế Tôn, ly tham với mục đích gì?
-- Ly tham, này Ràdha, với mục đích được giải thoát.
12) -- Bạch Thế Tôn, giải thoát với mục đích gì?
-- Giải thoát, này Ràdha, với mục đích Niết-bàn.
13) -- Bạch Thế Tôn, Niết-bàn với mục đích gì?

-- Này Ràdha, Ông đi quá xa với câu hỏi này, không thế nắm được giới hạn của câu hỏi. Nhập vào Niết-bàn, này Ràdha, là sự thực hành Phạm hạnh; Niết-bàn là mục tiêu cuối cùng; Niết-bàn là cứu cánh.
II. Chúng Sanh (Tạp 6, Ðại 2,40a) (S.iii,189)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Chúng sanh, chúng sanh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là chúng sanh?
4) -- Này Ràdha, dục nào (chanda), tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh (sattà).
5-7) ... thọ... tưởng... các hành...
8) Dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với thức, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh.
9) Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
10) Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
11) Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.
12-14) ... thọ... tưởng... các hành...
15) ... Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.
16) Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn.
III. Sợi Dây Tái Sanh (Tạp 6, Ðại 2,37c) (S.iii,190)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?
4) -- Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
5-7)... đối với thọ... với tưởng... với các hành...
8) Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
IV. Sở Biến Tri (Tạp 6, Ðại 2,37c) (Parinneyya) (S.iii,191)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Thế Tôn nói với Tôn giả Ràdha đang ngồi một bên:
-- Này Ràdha, Ta sẽ thuyết về các pháp cần phải biến tri, sự biến tri. Và Ông đã được biến tri. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
4) -- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ràdha vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này Ràdha, thế nào là pháp cần phải biến tri? Sắc, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Thọ, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Tưởng, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Các hành, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Thức, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Những pháp này, này Ràdha, là những pháp cần phải biến tri.
5) Và này Ràdha, thế nào là sự biến tri?
Này Ràdha, sự đoạn diệt tham, sự đoạn diệt sân, sự đoạn diệt si. Như vậy, này Ràdha, gọi là chánh biến tri.
6) Và này Ràdha, thế nào là người đã chánh biến tri? Bậc A-la-hán, cần phải trả lời như vậy. Bậc Tôn giả với tên như thế này, với dòng họ như thế này. Như vậy, này Ràdha, là người đã được chánh biến tri.
V. Sa Môn (S.iii,191)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3-4) Thế Tôn nói với Tôn giả Ràdha đang ngồi một bên:
-- Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
5) Này Ràdha, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các vị Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các vị Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy không thể ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
6) Nhưng này Ràdha, những Sa-môn, hay Bà-la-môn nào như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các vị Sa-môn, và được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các vị Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
VI. Sa Môn (S.iii,192)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
4) -- Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn... (như kinh trên, chỉ thêm sự tập khởi và sự đoạn diệt vào vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn).
VII. Bậc Dự Lưu (S.iii,192)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
4) -- Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn.
5) Này Ràdha, khi nào bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này. Vị này, này Ràdha, được gọi là vị Thánh đệ tử đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến cứu cánh bồ-đề.
VIII. Bậc A-La-Hán (S.iii,192)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
4) -- Này Rdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn.
5) -- Này Ràdha, khi nào Tỷ-kheo sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy, gọi vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí.
IX. Dục Tham (S.iii,193)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3-4) Thế Tôn nói với Tôn giả Ràdha đang ngồi một bên:
-- Này Ràdha, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, hãy từ bỏ chúng. Như vậy, sắc sẽ được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.
5-7) ... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành...
8) Này Ràdha, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào, đối với thức, hãy từ bỏ chúng. Như vậy, thức sẽ được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.
X. Dục Tham (Siii, 193)

(Như kinh trên, chỉ thêm vào: "Phàm có những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên").
Chánh văn Pāḷi:
2. Rādhasaṃyuttaṃ
1. Paṭhamavaggo
1. Mārasuttaṃ
160. Sāvatthinidānaṃ . Atha kho āyasmā rādho yena bhagavā tenupasaṅkami ; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca –
‘‘‘Māro, māro’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, māro’’ti? ‘‘Rūpe kho, rādha, sati māro vā assa māretā vā yo vā pana mīyati. Tasmātiha tvaṃ, rādha, rūpaṃ māroti passa, māretāti passa, mīyatīti passa, rogoti passa, gaṇḍoti passa, sallanti passa, aghanti passa, aghabhūtanti passa. Ye naṃ evaṃ passanti te sammā passanti. Vedanāya sati… saññāya sati… saṅkhāresu sati… viññāṇe sati māro vā assa māretā vā yo vā pana mīyati. Tasmātiha tvaṃ, rādha, viññāṇaṃ māroti passa, māretāti passa, mīyatīti passa, rogoti passa, gaṇḍoti passa, sallanti passa, aghanti passa, aghabhūtanti passa. Ye naṃ evaṃ passanti, te sammā passantī’’ti.
‘‘Sammādassanaṃ pana, bhante, kimatthiya’’nti? ‘‘Sammādassanaṃ kho, rādha, nibbidatthaṃ’’. ‘‘Nibbidā pana, bhante, kimatthiyā’’ti? ‘‘Nibbidā kho, rādha, virāgatthā’’. ‘‘Virāgo pana, bhante , kimatthiyo’’ti? ‘‘Virāgo kho, rādha, vimuttattho’’. ‘‘Vimutti pana, bhante, kimatthiyā’’ti? ‘‘Vimutti kho, rādha, nibbānatthā’’. ‘‘Nibbānaṃ pana, bhante, kimatthiya’’nti? ‘‘Accayāsi [accasarā (sī. syā. kaṃ.), assa (pī.), accayā (ka.)], rādha, pañhaṃ, nāsakkhi pañhassa pariyantaṃ gahetuṃ. Nibbānogadhañhi, rādha, brahmacariyaṃ vussati, nibbānaparāyanaṃ nibbānapariyosāna’’nti. Paṭhamaṃ.

2. Sattasuttaṃ
161. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘satto, satto’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante , sattoti vuccatī’’ti? ‘‘Rūpe kho, rādha, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, tatra satto, tatra visatto, tasmā sattoti vuccati. Vedanāya… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, tatra satto, tatra visatto, tasmā sattoti vuccati’’.
‘‘Seyyathāpi, rādha, kumārakā vā kumārikāyo vā paṃsvāgārakehi kīḷanti. Yāvakīvañca tesu paṃsvāgārakesu avigatarāgā honti avigatacchandā avigatapemā avigatapipāsā avigatapariḷāhā avigatataṇhā, tāva tāni paṃsvāgārakāni allīyanti keḷāyanti dhanāyanti [manāyanti (sī. pī. ka.)] mamāyanti. Yato ca kho, rādha, kumārakā vā kumārikāyo vā tesu paṃsvāgārakesu vigatarāgā honti vigatacchandā vigatapemā vigatapipāsā vigatapariḷāhā vigatataṇhā, atha kho tāni paṃsvāgārakāni hatthehi ca pādehi ca vikiranti vidhamanti viddhaṃsenti vikīḷaniyaṃ [vikīḷanikaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)] karonti. Evameva kho, rādha, tumhepi rūpaṃ vikiratha vidhamatha viddhaṃsetha vikīḷaniyaṃ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha. Vedanaṃ vikiratha vidhamatha viddhaṃsetha vikīḷaniyaṃ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha. Saññaṃ… saṅkhāre vikiratha vidhamatha viddhaṃsetha vikīḷaniyaṃ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha. Viññāṇaṃ vikiratha vidhamatha viddhaṃsetha vikīḷaniyaṃ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha. Taṇhākkhayo hi, rādha, nibbāna’’nti. Dutiyaṃ.
3. Bhavanettisuttaṃ
162. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘bhavanettinirodho [bhavanetti (sī. syā. kaṃ. pī.)], bhavanettinirodho’ti [bhavanettīti (sī. syā. kaṃ.)], bhante, vuccati. Katamā nu kho, bhante, bhavanetti, katamo bhavanettinirodho’’ti? ‘‘Rūpe kho, rādha, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā – ayaṃ vuccati bhavanetti. Tesaṃ nirodho [nirodhā (sī. syā. kaṃ. pī.)] bhavanettinirodho. Vedanāya… saññāya… saṅkhāresu … viññāṇe yo chando…pe… adhiṭṭhānābhinivesānusayā – ayaṃ vuccati bhavanetti. Tesaṃ nirodho bhavanettinirodho’’ti. Tatiyaṃ.
4. Pariññeyyasuttaṃ
163. Sāvatthinidānaṃ. Āyasmā rādho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ rādhaṃ bhagavā etadavoca –
‘‘Pariññeyye ca, rādha, dhamme desessāmi pariññañca pariññātāviṃ puggalañca. Taṃ suṇāhi, sādhukaṃ manasi karohi; bhāsissāmī’’ti. ‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho āyasmā rādho bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca – ‘‘katame ca, rādha, pariññeyyā dhammā? Rūpaṃ kho, rādha, pariññeyyo dhammo, vedanā pariññeyyo dhammo, saññā pariññeyyo dhammo, saṅkhārā pariññeyyo dhammo, viññāṇaṃ pariññeyyo dhammo. Ime vuccanti, rādha, pariññeyyā dhammā. Katamā ca, rādha, pariññā? Yo kho, rādha, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo – ayaṃ vuccati, rādha, pariññā. Katamo ca, rādha, pariññātāvī puggalo? ‘Arahā’tissa vacanīyaṃ. Yvāyaṃ āyasmā evaṃnāmo evaṃgotto – ayaṃ vuccati, rādha, pariññātāvī puggalo’’ti. Catutthaṃ.
5. Samaṇasuttaṃ
164. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ rādhaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘pañcime, rādha, upādānakkhandhā. Katame pañca? Rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho , saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ye hi keci, rādha, samaṇā vā brāhmaṇā vā imesaṃ pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ nappajānanti; na me te, rādha, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca pana te āyasmanto sāmaññatthaṃ vā brahmaññatthaṃ vā diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti. Ye ca kho keci, rādha, samaṇā vā brāhmaṇā vā imesaṃ pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ pajānanti; te kho me, rādha, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā , te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī’’ti. Pañcamaṃ.
6. Dutiyasamaṇasuttaṃ
165. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ rādhaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘pañcime, rādha, upādānakkhandhā. Katame pañca? Rūpupādānakkhandho…pe… viññāṇupādānakkhandho. Ye hi keci, rādha, samaṇā vā brāhmaṇā vā imesaṃ pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ nappajānanti…pe… sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī’’ti. Chaṭṭhaṃ.
7. Sotāpannasuttaṃ
166. Sāvatthinidānaṃ . Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ rādhaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘pañcime, rādha, upādānakkhandhā. Katame pañca? Rūpupādānakkhandho…pe… viññāṇupādānakkhandho. Yato kho, rādha, ariyasāvako imesaṃ pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ pajānāti – ayaṃ vuccati, rādha, ariyasāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano’’ti. Sattamaṃ.
8. Arahantasuttaṃ
167. Sāvatthinidānaṃ . Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ rādhaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘pañcime, rādha, upādānakkhandhā. Katame pañca? Rūpupādānakkhandho…pe… viññāṇupādānakkhandho. Yato kho, rādha, bhikkhu imesaṃ pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ viditvā anupādāvimutto hoti – ayaṃ vuccati, rādha, arahaṃ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṃyojano sammadaññāvimutto’’ti. Aṭṭhamaṃ.
9. Chandarāgasuttaṃ
168. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ rādhaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘rūpe kho, rādha, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, taṃ pajahatha. Evaṃ taṃ rūpaṃ pahīnaṃ bhavissati ucchinnamūlaṃ tālāvatthukataṃ anabhāvaṃkataṃ āyatiṃ anuppādadhammaṃ. Vedanāya yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, taṃ pajahatha . Evaṃ sā vedanā pahīnā bhavissati ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Saññāya… saṅkhāresu yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, taṃ pajahatha. Evaṃ te saṅkhārā pahīnā bhavissanti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Viññāṇe yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, taṃ pajahatha. Evaṃ taṃ viññāṇaṃ pahīnaṃ bhavissati…pe… anuppādadhamma’’nti. Navamaṃ.
10. Dutiyachandarāgasuttaṃ
169. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ rādhaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘rūpe kho, rādha, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, te pajahatha. Evaṃ taṃ rūpaṃ pahīnaṃ bhavissati ucchinnamūlaṃ tālāvatthukataṃ anabhāvaṃkataṃ āyatiṃ anuppādadhammaṃ. Vedanāya yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, te pajahatha. Evaṃ sā vedanā pahīnā bhavissati ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Saññāya… saṅkhāresu yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, te pajahatha. Evaṃ te saṅkhārā pahīnā bhavissanti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Viññāṇe yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, te pajahatha. Evaṃ taṃ viññāṇaṃ pahīnaṃ bhavissati ucchinnamūlaṃ tālāvatthukataṃ anabhāvaṃkataṃ āyatiṃ anuppādadhamma’’nti. Dasamaṃ.
Chú giải Pāḷi:
2. Rādhasaṃyuttaṃ
1. Paṭhamavaggo
1. Mārasuttavaṇṇanā
160. Rādhasaṃyuttassa paṭhame māro vā assāti maraṇaṃ vā bhaveyya. Māretā vāti māretabbo vā. Yo vā pana mīyatīti yo vā pana marati. Nibbidatthanti nibbidāñāṇatthaṃ.Nibbānatthāti phalavimutti nāmesā anupādānibbānatthāti attho. Accayāsīti atikkantosi. Nibbānogadhanti nibbāne patiṭṭhitaṃ. Idaṃ maggabrahmacariyaṃ nāma nibbānabbhantare vussati, na nibbānaṃ atikkamitvāti attho. Nibbānapariyosānanti nibbānaṃ assa pariyosānaṃ, nipphatti niṭṭhāti attho. Paṭhamaṃ.
2-10. Sattasuttādivaṇṇanā
161-169. Dutiye satto sattoti laggapucchā. Tatra satto tatra visattoti tatra laggo tatra vilaggo. Paṃsvāgārakehīti paṃsugharakehi. Keḷāyantīti kīḷanti. Dhanāyantīti dhanaṃ viya maññanti. Mamāyantīti ‘‘mama idaṃ, mama ida’’nti mamattaṃ karonti, aññassa phusitumpi na denti. Vikīḷaniyaṃ karontīti ‘‘niṭṭhitā kīḷā’’ti te bhindamānā kīḷāvigamaṃ karonti. Tatiyebhavanettīti bhavarajju. Catutthaṃ uttānameva. Pañcamādīsu catūsu cattāri saccāni kathitāni, dvīsu kilesappahānanti. Dutiyādīni.